Căn phòng trọ này là nơi sinh hoạt của cả gia đình anh Hiếu gồm bốn người,với tiền thuê hơn 3 triệu đồng mỗi tháng,tăng gần 30% so với thời điểm vừa chuyển đến. Tổng thu nhập khoảng 30 triệu đồng mỗi tháng,anh Hiếu nói sau khi chi trả tiền thuê nhà,điện nước,học phí và sinh hoạt,khoản tích lũy còn lại không đáng kể.
"Nhiều năm nay,chúng tôi không dám nghĩ đến chuyện mua nhà,chỉ mong có nơi cho thuê ở ổn định,giá hợp lý để yên tâm làm việc và nuôi con",anh Hiếu cho hay.
Tương tự,chị Lê Thị Mỹ Duyên (27 tuổi,quê Sóc Trăng),công nhân một nhà máy thực phẩm tại TP HCM,đã gần 3 năm sống trong căn phòng trọ 16 m2 cùng một người bạn đồng hương.
Khi mới đi làm,giá thuê phòng chỉ khoảng 1,8 triệu đồng mỗi tháng. Hiện mức giá đã tăng lên 2,5 triệu đồng. Với thu nhập khoảng 12-14 triệu đồng mỗi tháng,sau khi trừ chi phí sinh hoạt và gửi tiền về quê cho gia đình,chị gần như không còn dư để tích lũy. "Nhiều đồng nghiệp của tôi đã phải chuyển chỗ ở vài lần vì chủ nhà tăng giá hoặc lấy lại phòng",chị Duyên cho biết.
Câu chuyện của anh Hiếu và chị Duyên phản ánh thực trạng chung của hàng triệu công nhân tại các đô thị và khu công nghiệp trên cả nước. Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam,hiện cả nước có khoảng 4,5-5 triệu công nhân đang làm việc tại các khu công nghiệp và đô thị. Phần lớn trong số này phải thuê trọ trong các khu nhà dân tự phát do cá nhân xây dựng tại các khu vực ven đô hoặc quanh khu công nghiệp.
Ở TP HCM,thống kê của Sở Quy hoạch và Kiến trúc,đến năm 2030,thành phố có gần một triệu người thuộc nhóm cần hỗ trợ nhà ở xã hội. Riêng lực lượng công nhân có nhu cầu khoảng 300.000 căn. Tuy nhiên,với mục tiêu phát triển 200.000 căn nhà ở xã hội đến năm 2030,thành phố gần như chưa thể đáp ứng hết nhu cầu thực tế của người lao động.
Không chỉ nguồn cung thiếu,giá nhà cũng là một thách thức lớn với lực lượng công nhân. Theo Liên đoàn Lao động TP HCM,với mức thu nhập trung bình khoảng 10 triệu đồng mỗi tháng,sau khi trang trải chi phí sinh hoạt,người lao động chỉ có thể tiết kiệm 4-6 triệu đồng. Trong khi đó,giá một căn nhà ở xã hội hiện phổ biến từ 1,2 tỷ đồng trở lên.
Ngay cả khi dành toàn bộ khoản tích lũy để mua nhà,nhiều người lao động cũng phải mất hàng chục năm mới đủ khả năng sở hữu,chưa kể áp lực trả góp hàng tháng khiến không ít người e ngại vay vốn.

Cuộc sống ở khu nhà ở xã hội cho thuê tại TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần
Trong bối cảnh giá nhà ngày càng vượt xa khả năng chi trả của người lao động,phát triển nhà ở cho thuê đang được xem là một giải pháp quan trọng cho bài toán an cư đô thị. Số liệu từ Viện Nghiên cứu và Đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam (VARS IRE) cho thấy,hơn 60% người trẻ dưới 35 tuổi tại đô thị lớn đang chọn thuê nhà ở vì không đủ tài chính sở hữu bất động sản. Khảo sát của chuyên trang Batdongsan cũng ghi nhận 55% nhóm dưới 35 tuổi vẫn đang chọn giải pháp thuê trọ và chỉ 14% mua được nhà trong bối cảnh giá leo thang.
Theo ông Lê Hữu Nghĩa,Tổng giám đốc Công ty Lê Thành,nhiều người lao động cho biết không nhất thiết phải sở hữu nhà bằng mọi giá mà họ chỉ cần một nơi ở ổn định để yên tâm làm việc và nuôi dạy con cái. Bởi nỗi lo lớn nhất của những người này là phải liên tục chuyển nhà do giá thuê tăng,chủ lấy lại phòng hoặc điều kiện sống không còn phù hợp.
Khác với nhà để bán,nhà cho thuê cũng ít chịu tác động của đầu cơ do chủ yếu phục vụ nhu cầu ở thực,phù hợp với tài chính số đông. Theo VARS IRE,thị trường nhà ở hiện phát triển thiếu cân đối khi chưa hình thành được phân khúc nhà cho thuê đủ mạnh. Nếu nhà ở thương mại phục vụ nhóm có khả năng sở hữu và nhà ở xã hội hỗ trợ người thu nhập thấp,thì nhà ở cho thuê sẽ trở thành lựa chọn ổn định cho hàng triệu lao động chưa đủ khả năng mua nhà.
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy các quốc gia có tỷ lệ đô thị hóa cao đều phát triển mạnh thị trường nhà cho thuê. Tại Đức,gần một nửa dân số sống trong nhà thuê. Singapore và Hàn Quốc cũng phát triển quỹ nhà cho thuê với sự tham gia trực tiếp của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu của người thu nhập thấp và lao động trẻ. Điểm chung của các mô hình này là xem nhà ở cho thuê như một cấu phần của hệ thống an sinh xã hội,thay vì chỉ là sản phẩm kinh doanh.
Tuy nhiên tại Việt Nam,nguồn cung nhà cho thuê chủ yếu là các khu nhà trọ nhỏ lẻ do cá nhân đầu tư,chất lượng không đồng đều. Nhiều khu nhà trọ công nhân có diện tích chật hẹp,mật độ cư trú cao,thiếu không gian sinh hoạt cộng đồng,hạ tầng xuống cấp và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn.
Phân khúc này cũng chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia do thiếu các cơ chế khuyến khích đủ mạnh. Nhà ở cho thuê có thời gian hoàn vốn kéo dài 15-25 năm trong khi biên lợi nhuận thấp hơn đáng kể so với phát triển nhà để bán,khiến doanh nghiệp ít mặn mà tham gia.
Ông Nghĩa cho biết,Luật Nhà ở 2014 có nhiều ưu đãi về thuế,tín dụng và hạ tầng cho dự án nhà ở xã hội cho thuê,tạo động lực cho doanh nghiệp tham gia phát triển. Tuy nhiên,nhiều chính sách hỗ trợ không còn được duy trì trong Luật Nhà ở 2024,khiến sức hấp dẫn của phân khúc suy giảm.
Các chuyên gia cho rằng cần có cơ chế ưu đãi riêng về đất đai,tín dụng và thuế để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nhà cho thuê dành cho công nhân và người thu nhập trung bình. Đồng thời,cơ quan chức năng cần hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi của người thuê và từng bước xem nhà ở cho thuê là một phần của hệ thống an sinh đô thị.
"Người lao động không nhất thiết phải sở hữu nhà ngay lập tức,nhưng cần một nơi ở thuê ổn định để an cư. Chỉ khi giải quyết được bài toán đó,các đô thị mới có thể giữ chân lực lượng lao động và phát triển bền vững",ông Nghĩa nói.
Phương Uyên